Thành phần
Hoạt chất chính: Pregabalin 75mg.
Tá dược: Lactose monohydrat, tinh bột ngô, talc, vỏ nang (chứa gelatin, nước, titan dioxide, oxit sắt đỏ, natri laurylsulfat, silica colloidal khan, mực in màu đen SW – 9009/ – 9009).
Chỉ định
Thuốc Lyrica được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:
Đau thần kinh: Pregabalin được chỉ định trong điều trị đau thần kinh ở người lớn.
Động kinh: Pregabalin được chỉ định điều trị hỗ trợ động kinh cục bộ, có hoặc không kèm theo động kinh toàn bộ thứ phát ở người lớn.
Rối loạn lo âu lan tỏa: Pregabalin được chỉ định điều trị rối loạn lo âu lan tỏa (Generalized Anxiety Disorder – GAD) ở người lớn.
Đau cơ xơ hóa: Pregabalin được chỉ định để điều trị chứng đau cơ xơ hóa (fibromyalgia).
Dược lực học
Nhóm trị liệu: Chống động kinh. Mã ATC: N03AX16.
Hoạt chất chính: Pregabalin, là một chất tương tự như acid gamma – aminobutyric (GABA) (acid (S) – 3 – (aminomethyl – 5 – methylhexanoic).
Cơ chế tác dụng
Pregabalin gắn với 1 tiểu đơn vị phụ (α2 – δ protein) của kênh calci cổng điện thế trong hệ thống thần kinh trung ương.
Bằng chứng từ mô hình động vật có tổn thương thần kinh chỉ ra rằng pregabalin giảm giải phóng chất dẫn truyền thần kinh cảm thụ đau phụ thuộc vào canxi ở tủy sống, có thể thông qua sự ngăn cản vận chuyển canxi và/hoặc giảm dòng canxi. Bằng chứng từ các mô hình động vật khác có tổn thương thần kinh cho thấy hoạt tính giảm đau của pregabalin cũng có thể gián tiếp qua các tương tác với các con đường phó giao cảm và serotonin.
Đau thần kinh
Hiệu quả của thuốc đã được chỉ ra từ các nghiên cứu trong bệnh thần kinh do tiểu đường và chứng đau thần kinh sau zona. Hiệu quả của thuốc chưa được nghiên cứu trong các mô hình đau thần kinh khác.
Pregabalin đã được nghiên cứu trong 9 nghiên cứu lâm sàng có đối chứng trong tối đa 13 tuần với liều dùng 2 lần/ngày và tối đa 8 tuần với liều dùng 3 lần/ngày. Nhìn chung, các số liệu về an toàn và hiệu quả của chế độ liều 2 lần/ngày và 3 lần/ngày là tương tự nhau.
Trong các thử nghiệm lâm sàng trong tối đa 13 tuần, đã quan sát thấy có giảm đau trong tuần thứ nhất và được duy trì trong suốt thời gian điều trị.
Trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, 35% bệnh nhân được điều trị với pregabalin và 18% bệnh nhân được điều trị với giả dược đã đạt được mức cải thiện 50% ở điểm đau. Đối với bệnh nhân không bị buồn ngủ, mức cải thiện về điểm đau đó cũng đã được quan sát ở 33% bệnh nhân điều trị với pregabalin và 18% bệnh nhân dùng giả dược. Với bệnh nhân từng có buồn ngủ tỉ lệ đáp ứng là 48% đối với pregabalin và 16% đối với giả dược.
Đau cơ xơ hóa
Đơn trị liệu bằng pregabalin được nghiên cứu trong 5 nghiên cứu đối chứng bằng giả dược, trong do có 3 nghiên cứu trong 12 tuần với liều cố định, một nghiên cứu trong 7 tuần với liều cố định và một nghiên cứu trong 6 tháng để đánh giá hiệu quả lâu dài. Điều trị bằng pregabalin trong tất cả các nghiên cứu với liều cố định đã đạt được mức giảm đau đáng kể trong bệnh đau cơ xơ hóa ở liều từ 300 đến 600mg (2 lần/ngày).
Trong 3 nghiên cứu với liều cố định trong 12 tuần, 40% bệnh nhân dùng pregabalin đạt mức cải thiện điểm đau từ 30% trở lên so với 28% bệnh nhân dùng giả dược, 23% bệnh nhân điều trị đạt mức cải thiện điểm đau từ 50% trở lên so với 15% bệnh nhân dùng giả dược.
Pregabalin đạt điểm đánh giá tổng thể cao hơn hẳn so với giả dược trong thang điểm PCIC (Patient Global Impression of Change – cảm giác thay đổi tổng thể của bệnh nhân) trong 3 nghiên cứu liều cố định trong 12 tuần (41% bệnh nhân dùng pregabalin cảm thấy đỡ hơn rất nhiều hoặc đỡ hơn nhiều so với 29% bệnh nhân dùng giả dược). Trong thang điểm FIQ (bảng câu hỏi về tác dụng trên đau cơ xơ hóa), so với giả dược, pregabalin đạt mức cải thiện có ý nghĩa thống kê về mặt chức năng trong 2 trên 3 nghiên cứu với liều cố định được đánh giá.
Điều trị bằng pregabalin cải thiện đáng kể chất lượng giấc ngủ theo đánh giá của bệnh nhân trong 4 nghiên cứu dùng liều cố định được tính theo Thang đánh giá giấc ngủ trong Nghiên cứu kết quả y học (MOS – SS). Thang đánh giá phụ về rối loạn giấc ngủ, chỉ số vấn đề về giấc ngủ nói chung MOSS và nhật ký chất lượng giấc ngủ hằng ngày.
Trong nghiên cứu 6 tháng, mức cải thiện đau, điểm đánh giá tổng thể (PRC), chức năng (tổng điểm FIQ) và giấc ngủ (MOS – SS Thang đánh giá phụ về rối loạn giấc ngủ) được duy trì ở bệnh nhân dùng pregabalin với thời gian kéo dài hơn giả dược rõ rệt. Dùng pregabalin với liều 600 mg/ngày cho mức cải thiện cao hơn về chất lượng giấc ngủ theo đánh giá của bệnh nhân so với liều 300mg và 450 mg/ngày; tác dụng giảm đau bình quân, điểm đánh giá tổng thể, và chỉ số IQ là tương tự giữa liều 450mg và 600 mg/ngày, mặc dù liều 600 mg/ngày được dung nạp kém hơn.
Động kinh
Pregabalin được nghiên cứu trong 3 nghiên cứu lâm sàng có đối chứng trong thời gian điều trị 12 tuần với liều dùng 2 lần/ngày hoặc 3 lần/ngày. Nhìn chung, các số liệu về an toàn và hiệu quả của các chế độ liều 2 lần/ngày và 3 lần/ngày là tương tự nhau.
Đã quan sát thấy có giảm tần số các cơn động kinh ở tuần thứ nhất.
Rối loạn lo âu lan tỏa
Pregabalin đã được nghiên cứu trong 6 nghiên cứu lâm sàng có đối chứng trong thời gian 4 – 6 tuần điều trị, một nghiên cứu trên bệnh nhân lớn tuổi trong thời gian 8 tuần và một nghiên cứu ngăn ngừa tái phát dài hạn cùng với một giai đoạn ngăn ngừa tái phát mù đôi trong thời gian 6 tháng điều trị.
Đã quan sát thấy có giảm các triệu chứng của rối loạn lo âu lan tỏa theo thang đánh giá độ lo âu Hamilton (HAM – A) trong tuần thứ nhất.
Trong các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng (thời gian 4 – 8 tuần điều trị), 52% bệnh nhân điều trị bằng pregabalin và 38% bệnh nhân điều trị bằng giả dược đã đạt mức cải thiện ít nhất là 50% tổng số điểm theo thang đánh giá độ lo âu HAM – A từ trước khi điều trị cho tới khi kết thúc điều trị.
Dược động học
Dược động học ổn định của pregabalin là giống nhau trên những người tình nguyện khỏe mạnh, các bệnh nhân động kinh đang dùng thuốc chống động kinh và các bệnh nhân đau mạn tính.
Hấp thu
Pregabalin được hấp thu nhanh khi uống lúc đói, nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau 1 giờ trong cả chế độ dùng đơn liều và đa liều. Sinh khả dụng đường uống của pregabalin khoảng trên 90% và không phụ thuộc vào liều dùng. Khi sử dụng nhắc lại, tình trạng ổn định đạt được trong khoảng 24 – 48 giờ. Tỉ lệ hấp thu của pregabalin giảm khi dùng cùng thức ăn dẫn đến Cmax giảm khoảng 25 – 30% và tmax bị chậm khoảng 2.5 giờ. Tuy nhiên, dùng pregabalin cùng với thức ăn không có ảnh hưởng lâm sàng đáng kể nào đến mức độ hấp thu pregabalin.
Phân bố
Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, pregabalin dễ dàng đi qua hàng rào máu não ở chuột nhắt, chuột cống và khỉ. Pregabalin qua được nhau thai ở chuột cống và xuất hiện trong sữa chuột, ở người, thể tích phân bố biểu kiến của pregabalin sau khi dùng đường uống là khoảng 0.56 l/kg. Pregabalin không gắn với protein huyết tương.
Chuyển hóa
Pregabalin được chuyển hóa không đáng kể trong cơ thể người. Sau khi dùng pregabalin có đánh dấu phóng xạ, khoảng 98% hoạt tính phóng xạ được tìm thấy trong nước tiểu là của pregabalin ở dạng chưa chuyển hóa. Dẫn xuất N – methylated của pregabalin, chất chuyển hóa chính của pregabalin được tìm thấy trong nước tiểu, chiếm khoảng 0.9% liều dùng. Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, không có dấu hiệu nào về sự biến đổi pregabalin dạng đồng phân tả truyền thành đồng phân hữu truyền.
Thải trừ
Pregabalin được thải trừ khỏi hệ tuần hoàn chủ yếu do bài tiết qua thận dưới dạng không chuyển hóa.
Thời gian bán thải trung bình của pregabalin là 6.3 giờ. Tốc độ thanh thải pregabalin huyết tương và tốc độ thanh thải thận tỉ lệ thuận với tốc độ thanh thải creatinin.
Tuyến tính/không tuyến tính
Dược động học của pregabalin là tuyến tính trong khoảng liều khuyến cáo hàng ngày. Độ biến thiên dược động học giữa các đối tượng của pregabalin là thấp (dưới 20%). Các đặc tính dược động học của chế độ đa liều có thể dự đoán được từ các dữ liệu của liều đơn. Vì vậy không cần thiết phải kiểm tra định kỳ nồng độ pregabalin trong huyết tương.
Dược động học ở những nhóm bệnh nhân đặc biệt
Giới tính: Các thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy giới tính không có ảnh hưởng lâm sàng đáng kể nào đến nồng độ của pregabalin trong huyết tương.
Suy thận: Tốc độ thanh thải pregabalin tỉ lệ thuận với tốc độ thanh thải creatinin. Thêm vào đó, pregabalin được loại bỏ hiệu quả khỏi huyết tương qua thẩm tách máu (sau 4 giờ thẩm tách máu nồng độ của pregabalin trong huyết tương giảm khoảng 50%). Bởi vì thải trừ qua thận là đường thải trừ chính, cần phải giảm liều cho bệnh nhân suy thận và dùng liều bổ sung cho bệnh nhân thẩm tách máu.
Suy gan: Chưa có nghiên cứu dược động học cụ thể nào được tiến hành trên bệnh nhân suy gan. Vì pregabalin được chuyển hóa không đáng kể và thải trừ chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng không chuyển hóa, bệnh nhân suy gan dự kiến sẽ không có thay đổi đáng kể về nồng độ của pregabalin trong huyết tương.
Người cao tuổi (trên 65 tuổi): Tốc độ thanh thải pregabalin có xu hướng giảm khi tuổi cao. Mức giảm của tốc độ thanh thải pregabalin theo đường uống thống nhất với mức giảm của tốc độ thanh thải creatinin khi tuổi cao. Có thể cần giảm liều pregabalin cho các bệnh nhân tổn thương chức năng thận do tuổi cao.
Phụ nữ cho con bú: Dược động học của liều pregabalin 150mg dùng 12 giờ/lần (liều 300mg hàng ngày) đã được khảo sát ở 10 phụ nữ đang có tiết sữa, các phụ nữ này đang ở giai đoạn sau khi sinh tối thiểu là 12 tuần. Sự tiết sữa ít ảnh hưởng hoặc không có ảnh hưởng đến dược động học của pregabalin. Pregabalin được tiết vào sữa với nồng độ ổn định trung bình vào khoảng 76% so với nồng độ thuốc trong huyết tương của mẹ. Liều pregabalin trung bình từ sữa mẹ mà trẻ nhận hàng ngày (giả sử lượng sữa tiêu thụ trung bình là 150 ml/kg/ngày) là 0.31 mg/kg/ngày, liều này tính theo mg/kg sẽ là khoảng 7% so với liều của người mẹ.
Liều dùng
Hiện nay hiệu quả điều trị, mức độ an toàn của thuốc đối với trẻ em dưới 12 tuổi và thanh thiếu niên vẫn chưa được kiểm chứng. Do vậy không dùng thuốc Lyrica cho trẻ em.
Điều trị đau do nguồn gốc thần kinh và chữa động kinh: Dùng thuốc với liều khởi đầu 150 mg/ngày, chia làm 2-3 lần uống. Tùy vào khả năng đáp ứng của cơ thể mà người bệnh có thể tăng liều lên đến 300 mg/ngày sau 3-7 ngày điều trị. Trong trường hợp cần thiết, có thể tăng lên liều tối đa là 60mg sau khoảng 1 tuần sau đó.
Điều trị rối loạn lo âu lan tỏa: Uống thuốc với liều khởi đầu 150 mg/ngày. Sau 1 tuần có thể tăng dần lên 300 mg/ngày. Và vào mỗi tuần tiếp theo liều lượng thuốc dùng có thể là từ 450-600 mg/ngày tùy vào khả năng đáp ứng của cơ thể người bệnh.
Cách dùng
Dùng đường uống.
Nên nuốt cả viên thuốc 75mg với nước (lúc no hay đói), tránh nghiền nhỏ thuốc để dùng bởi cách này có thể làm tăng nguy cơ mắc tác dụng phụ.
Làm gì khi dùng quá liều
Trong trường hợp quá liều nhưng không quá 15g, không có tác dụng không mong muốn bất ngờ nào được báo cáo.
Sau khi lưu hành thuốc, các tác dụng phụ phổ biến nhất được báo cáo khi dùng quá liều pregabalin bao gồm rối loạn cảm xúc, buồn ngủ, tình trạng lú lẫn, trầm cảm, lo âu, và bồn chồn.
Điều trị quá liều pregabalin cần bao gồm các biện pháp hỗ trợ tổng quát và có thể bao gồm cả thẩm tách máu nếu cần thiết.
Làm gì khi quên liều
Bổ sung liều ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời gian giãn cách với liều tiếp theo quá ngắn thì bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.
Tương tác thuốc
Thuốc Lyrica có thể tương tác với các loại thuốc (và sản phẩm) sau:
Lorazepam.
Ethanol.
Oxycodone.
Droperidol, Hydroxyzin, Methotrimeprazine.
Ketorolac (toàn thân hoặc nhỏ mũi).
Mefloquin.
Rượu.
Bên cạnh đó, Lyrica 75mg có thể phản ứng tương tác với các loại thuốc khác mà không được đề cập ở trên. Để bảo đảm an toàn, hãy báo với các bác sĩ tất cả các loại thuốc mà bạn đang sử dụng.
Thuốc tâm thần kinh Lyrica chủ yếu điều trị các cơn co giật, động kinh cũng như các cơn đau thần kinh và rối loạn lo âu. Tuy nhiên vì thuốc có tác động lên hệ thần kinh trung ương nên ít nhiều người bệnh cũng sẽ trải qua phản ứng phụ. Do vậy, hãy liên hệ với đơn vị y tế nếu thấy xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào bất thường để được hỗ trợ và xử lý kịp thời.
Tác dụng phụ
Đau đầu, chóng mặt và buồn ngủ.
Rối loạn tiền đình, nhìn mờ.
Tâm trạng dễ kích động, phấn khích, nhầm lẫn, giảm ham muốn tình dục, mất ngủ, mất phương hướng.
Đầy hơi, táo bón, khô miệng, nôn.
Run rẩy, mất điều hòa cơ thể, loạn vận ngôn, mất tập trung, dị cảm, lơ mơ, suy giảm trí nhớ.
Rối loạn khả năng cương dương (ở nam giới).
Tăng cảm giác thèm ăn, tăng cân.
Phù ngoại vi, phù nề.
Gây cảm giác giống say rượu, cơ thể dễ mệt mỏi.
Chống chỉ định
Quá mẫn với hoạt chất hoặc bất kỳ tá dược nào của thuốc.
Thận trọng khi sử dụng
Người bị suy thận, có bệnh lý tim mạch, đái tháo đường, có nguy cơ mắc bệnh về não, người cao tuổi.
Nếu ngừng thuốc nhanh và đột ngột người dùng có thể gặp phải các biểu hiện của lệ thuộc thuốc như đau đầu, mất ngủ, nôn, tiêu chảy. Do vậy nếu cần ngừng thuốc, cần ngưng thuốc từ từ trong khoảng thời gian tối thiểu 1 tuần. Tuy nhiên nếu có biểu hiện phù mạch cần ngưng thuốc ngay.
Đặc biệt cẩn trọng những hành vi quá khích như có ý định tự tử hoặc lạm dụng thuốc.
Lái xe và vận hành máy móc
Pregabalin có thể gây chóng mặt hoặc buồn ngủ và do vậy có thể ảnh hưởng tới khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc. Do vậy, bệnh nhân được khuyên không nên lái xe, vận hành máy phức tạp hoặc tham gia các hoạt động mạo hiểm khác cho đến khi xác định được thuốc có ảnh hưởng đến việc thực hiện các hoạt động này hay không.
Thời kỳ mang thai
Chưa có các dữ liệu đầy đủ về việc dùng pregabalin trên phụ nữ có thai.
Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy tác dụng gây độc trên khả năng sinh sản. Chưa biết rõ về nguy cơ có thể xảy ra trên người. Do vậy, không nên dùng pregabalin khi đang mang thai trừ khi lợi ích mang lại cho người mẹ vượt trội so với nguy cơ có thể xảy ra cho thai nhi. Nên sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả cho phụ nữ đang trong độ tuổi sinh đẻ.
Thời kỳ cho con bú
Pregabalin được bài tiết qua sữa ở phụ nữ cho con bú. Do tính an toàn của pregabalin ở trẻ nhỏ chưa được biết, nên không khuyến cáo nuôi con bằng sữa mẹ khi đang điều trị bằng pregabalin. Khi quyết định nên ngưng nuôi con bằng sữa mẹ hay ngưng điều trị bằng pregabalin thì cần cân nhắc giữa lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với trẻ và lợi ích khi điều trị bằng thuốc này đối với người mẹ.
Bảo quản
Bảo quản ở nhiệt độ không quá 30°C, tránh ánh sáng.




