Thành phần
Hoạt chất chính: Oxcarbazepine 300mg.
Tá dược: Silica dạng keo khan; cellulose vi tinh thể; hypromellose; crospovidone; magnesi stearat, Hypromellose; talc; titanium dioxide (E 171); macrogol 800; oxit sắt vàng (E172).
Chỉ định
Thuốc Trileptal được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:
Đơn trị liệu hoặc điều trị phối hợp trong điều trị động kinh cục bộ ở người lớn.
Đơn trị liệu trong điều trị động kinh cục bộ ở trẻ em từ 4 tuổi trở lên có cơn co giật.
Điều trị phối hợp cho trẻ em từ 2 tuổi trở lên có động kinh cục bộ.
Dược lực học
Cơ chế tác dụng
Hoạt tính dược học của Trileptal (hay oxcarbazepine) chủ yếu được phát huy qua sản phẩm chuyển hóa (MHD) của oxcarbazepine. Cơ chế hoạt động của oxcarbazepine và MHD được cho là chủ yếu dựa trên việc chẹn các kênh natri nhạy cảm điện thế, do đó làm ổn định màng thần kinh bị tăng hưng phấn, ức chế sự kích thích lặp lại ở tế bào thần kinh và giảm bớt sự lan tỏa của các xung động qua synap thần kinh. Ngoài ra, độ dẫn kali tăng và sự điều biến của các kênh calci hoạt hóa điện thế cao cũng có thể góp phần vào các tác dụng chống co giật của thuốc. Không có tương tác thuốc quan trọng nào với các vị trí thụ thể điều hòa thần kinh hoặc chất dẫn truyền thần kinh.
Đặc tính dược lực học
Oxcarbazepine và sản phẩm chuyển hóa có hoạt tính của nó (MHD) đều có khả năng chống co giật mạnh và hiệu quả trên súc vật. Chúng bảo vệ các loài gặm nhấm chống được co cứng – co giật toàn thể, ở một mức độ thấp hơn, các cơn động kinh rung giật, và làm mất hoặc giảm tần suất của các cơn động kinh cục bộ thường xuyên mãn tính trên khỉ Rhesus được cấy những mảnh aluminium. Không có sự dung nạp (ví dụ suy giảm hoạt động chống co giật) đối với các cơn động kinh co cứng – co giật được quan sát thấy trên chuột nhắt và chuột cống được điều trị hàng ngày trong 5 ngày hoặc trong 4 tuần bằng oxcarbazepine hoặc MHD.
Dược động học
Hấp thu
Sau khi uống viên nén Trileptal, oxcarbazepine được hấp thụ hoàn toàn và được chuyển hóa phần lớn thành sản phẩm chuyển hóa có hoạt tính dược lý (dẫn xuất 10- monohydroxy, MHD).
Sau khi dùng liều duy nhất 600mg viên nén Trileptal trên những người nam tình nguyện khỏe mạnh nhịn ăn, giá trị Cmax trung bình của MHD là 34 mmol/l, với giá trị tmax trung bình tương ứng là 4.5 giờ.
Dạng viên nén và hỗn dịch uống oxcarbazepine là tương đương sinh học vì đường cong nồng độ trung bình ở liều đơn và trạng thái ổn định, Cmax và AUC trong khoảng 0.85 đến 1.86 (90% khoảng tin cậy).
Trong một nghiên cứu cân bằng khối lượng trên người, chỉ có 2% tổng số phóng xạ trong huyết tương là do oxcarbazepine ở dạng không đổi, khoảng 70% là do MHD và phần còn lại là do các sản phẩm chuyển hóa thứ cấp nhanh chóng bị đào thải.
Thức ăn không ảnh hưởng đến tỉ lệ và khả năng hấp thu oxcarbazepine. Do đó Trileptal có thể dùng kèm hoặc không kèm với thức ăn.
Phân bố
Thể tích phân bố biểu kiến của MHD là 49l. Khoảng 40% MHD gắn với protein huyết thanh, chủ yếu với albumin. Sự gắn kết này trong phạm vi liên quan đến việc điều trị. Oxcarbazepine và MHD không gắn với alpha-1-acid glycoprotein.
Biến đổi sinh học/chuyển hóa
Oxcarbazepine nhanh chóng được các enzyme cytosolic ở gan chuyển hóa thành MHD, chất này chịu trách nhiệm chính đối với các tác dụng dược lý của Trileptal. MHD tiếp tục được chuyển hóa bởi sự kết hợp với acid glucuronic. Một lượng nhỏ (4% liều dùng) được oxy hóa thành sản phẩm chuyển hóa không có hoạt tính (dẫn xuất 10.11-dihydroxy, DHD).
Thải trừ
Oxcarbazepine được thải trừ khỏi cơ thể phần lớn ở dạng các sản phẩm chuyển hóa và được bài tiết chủ yếu qua thận. Hơn 95% liều dùng thải ra nước tiểu, trong đó dưới 1% dạng oxcarbazepine không đổi. Lượng bài tiết qua phần chiếm dưới 4% liều dùng.
Khoảng 80% liều được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng hoặc là MHD kết hợp glucuronide (49%) hoặc là MHD không đổi (27%), còn lượng DHD không có hoạt tính chiếm khoảng 3% và các chất kết hợp của oxcarbazepine chiếm 13% liều dùng. Oxcarbazepine nhanh chóng được loại trừ khỏi huyết tương với thời gian bán hủy khoảng 1.3 – 2.3 giờ. Trái lại, thời gian bán hủy biểu kiến trong huyết tương của MHD là 9.3 ± 1.8 giờ.
Tuyến tính/không tuyến tính
Nồng độ MHD trong huyết tương ở trạng thái bền vững đạt được sau 2 – 3 ngày trên bệnh nhân khi Trileptal được dùng chia làm hai lần trong ngày. Ở trạng thái bền vững, dược động học của MHD có tính chất tuyến tính và cho thấy tính cân đối liều ở mức 300 – 2400 mg/ngày.
Liều dùng
Bắt đầu với liều 600 mg/ngày chia làm 2 lần. Liều thuốc có thể tăng tối đa 600 mg/ngày với khoảng cách giữa các lần tăng là 1 tuần. Liều tối đa sử dụng thuốc trileptal là 2400 mg/ngày.
Điều trị phối hợp: Bắt đầu với liều 600 mg/ngày chia làm 2 lần. Liều thuốc có thể tăng tối đa 600 mg/ngày theo đáp ứng lâm sàng và khoảng cách giữa 2 lần tăng liều là 1 tuần. Liều tối đa: 1200 mg/ngày.
Chuyển đổi sang đơn trị liệu: Bắt đầu dùng thuốc Trileptal với liều 600 mg/ngày chia làm 2 lần và bắt đầu giảm liều thuốc chống động kinh kèm theo trong vòng từ 3-6 tuần. Liều duy trì nên đạt được sau 2-4 tuần và liều tối đa là 2400 mg/ngày.
Khởi đầu đơn trị liệu: Bắt đầu với liều 600 mg/ngày chia làm 2 lần. Có thể tăng liều 300 mg/ngày sau mỗi 3 ngày cho tới liều 1200 mg/ngày.
Cách dùng
Với dạng viên nén Trileptal có khía trên viên nên có thể bẻ thành hai nửa viên giúp người bệnh nuốt viên thuốc dễ dàng hơn. Cần chú ý, thời điểm dùng thuốc không phụ thuộc bữa ăn.
Với trẻ em nhỏ tuổi hoặc bệnh nhân không nuốt được thì nên dùng thuốc dạng Trileptal hỗn dịch.
Làm gì khi dùng quá liều
Triệu chứng
Tình trạng mất cân bằng dịch và điện giải: Hạ natri máu.
Rối loạn thị giác: Song thị, co đồng tử, mờ mắt.
Rối loạn hệ tiêu hóa: Buồn nôn, nôn, tăng vận động dạ dày.
Rối loạn toàn thân và tình trạng tại chỗ dùng thuốc: Mệt mỏi.
Xét nghiệm: Giảm tần số hô hấp, kéo dài khoảng QT.
Rối loạn hệ thần kinh trung ương: Uể oải và buồn ngủ, chóng mặt, rung giật nhãn cầu, mất điều hòa, run, rối loạn phối hợp (bất thường phối hợp), co giật, đau đầu, hôn mê, mất ý thức, rối loạn vận động.
Rối loạn tâm thần: Gây hấn, kích động, tình trạng lú lẫn.
Rối loạn mạch: Hạ huyết áp.
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất: Khó thở.
Xử trí
Không có thuốc giải độc đặc hiệu. Việc điều trị triệu chứng và hỗ trợ nên được tiến hành thích hợp. Việc loại bỏ thuốc bằng rửa dạ dày hoặc bất hoạt thuốc bằng than hoạt nên được xem xét.
Làm gì khi quên liều
Nếu bạn quên một liều thuốc, hãy dùng càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, nếu gần với liều kế tiếp, hãy bỏ qua liều đã quên và dùng liều kế tiếp vào thời điểm như kế hoạch. Lưu ý rằng không nên dùng gấp đôi liều đã quy định.
Tương tác thuốc
Thuốc ngừa thai hormone: Khi sử dụng Trileptal cùng các thuốc ngừa thai hormone có thể làm mất tác dụng ngừa thai. Khuyến cáo nên sử dụng các biện pháp ngừa thai không phải hormone khi sử dụng thuốc Trileptal.
Rượu: Có thể làm tăng tác dụng phụ gây buồn ngủ khi dùng cùng với Trileptal.
Tác dụng phụ
Những phản ứng có hại hay gặp nhất gồm buồn ngủ, nhức đầu, choáng váng, nhìn đôi, buồn nôn, nôn, mệt mỏi, gặp ở trên 10% bệnh nhân.
Trong các thử nghiệm lâm sàng, các biến cố bất lợi (AE) thường ở mức độ từ nhẹ tới trung bình, có tính chất thoáng qua và hay gặp hơn khi khởi đầu điều trị.
Phân tích biểu đồ tác dụng không mong muốn theo hệ cơ quan là dựa vào các hiện tượng có hại từ các thử nghiệm lâm sàng được đánh giá có liên quan tới Trileptal. Ngoài ra, các báo cáo có ý nghĩa lâm sàng về kinh nghiệm có hại từ các chương trình với bệnh nhân được xác định và kinh nghiệm khi đưa thuốc ra thị trường cũng được tính đến.
Rất thường gặp
Rối loạn hệ thần kinh: Buồn ngủ, nhức đầu, chóng mặt.
Rối loạn mắt: Song thị.
Rối loạn tiêu hóa: Nôn, buồn nôn.
Rối loạn toàn thân và tình trạng tại chỗ dùng thuốc: Mệt mỏi.
Thường gặp
Rối loạn nội tiết: Tăng cân.
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: Hạ natri máu.
Rối loạn tâm thần: Kích động (căng thẳng thần kinh), cảm xúc không ổn định, tình trạng lú lẫn, trầm cảm, vô cảm.
Rối loạn hệ thần kinh: Mất điều hòa, run, rung giật nhãn cầu, rối loạn sự chú ý, mất trí nhớ.
Rối loạn mắt: Nhìn mờ, rối loạn thị giác.
Rối loạn tai và mề đạo: Chóng mặt.
Rối loạn tiêu hóa: Tiêu chảy, đau bụng, táo bón.
Rối loạn da và mô dưới da: Nổi ban, rụng lông tóc, mụn trứng cá.
Rối loạn toàn thân và tình trạng tại chỗ dùng thuốc: Suy nhược.
Ít gặp
Rối loạn máu và hệ bạch huyết: Giảm bạch cầu.
Rối loạn da và mô dưới da: Nổi mề đay.
Xét nghiệm: Tăng men gan, tăng phosphatase kiềm trong máu.
Rất hiếm gặp
Rối loạn máu và hệ bạch huyết: Suy tủy xương, thiếu máu bất sản, mất bạch cầu hạt, giảm toàn thể huyết cầu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu trung tính.
Rối loạn hệ miễn dịch: Phản ứng phản vệ, quá mẫn cảm (bao gồm quá mẫn cảm nhiều cơ quan) được đặc trưng bởi các biểu hiện như nổi ban, sốt. Các cơ quan hoặc hệ thống khác có thể bị ảnh hưởng như máu và hệ bạch huyết (tăng bạch cầu ưa eosin, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, bệnh hạch bạch huyết, lách to), gan (viêm gan, các xét nghiệm bất thường về chức năng gan), cơ và khớp (sưng khớp, đau cơ, đau khớp), hệ thần kinh (bệnh não – gan), thận (suy thận, viêm thận kẽ, protein niệu), phổi (phù phổi, hen, co thắt phế quản, bệnh phổi kẽ, khó thở), phù mạch.
Rối loạn nội tiết: Suy giáp.
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: Hạ natri máu liên quan với các dấu hiệu và triệu chứng như co giật, bệnh não, giảm ý thức, lú lẫn, suy giáp, rối loạn thị giác (nhìn mờ), nôn, buồn nôn, thiếu hụt acid folic.
Rối loạn tim: Block nhĩ thất, loạn nhịp.
Rối loạn mạch: Tăng huyết áp
Rối loạn tiêu hóa: Viêm tụy hoặc tăng lipase và tăng amylase.
Rối loạn gan mật: Viêm gan.
Rối loạn da và mô dưới da: Hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử biểu bì nhiễm độc (hội chứng Lyell), phù mạch, ban đỏ đa hình.
Rối loạn cơ xương, mô liên kết và xương: Lupus ban đỏ hệ thống.
Xét nghiệm: Tăng amylase, tăng lipase.
Tác dụng không mong muốn ghi nhận từ các báo cáo tự phát và các trường hợp trong y văn (chưa biết tần suất)
Các tác dụng không mong muốn sau đã được ghi nhận từ kinh nghiệm hậu mãi của Trileptal thông qua các báo cáo tự phát và báo cáo trong y văn. Do những tác dụng không mong muốn này được báo cáo tự nguyện từ nguồn bệnh có cỡ mẫu không xác định nên không thể ước lượng chính xác được tần suất, vì vậy mục này sẽ được xếp loại là chưa biết tần suất. Những tác dụng không muốn được liệt kê dưới đây theo phân loại hệ cơ quan của MedDRA. Trong mỗi hệ cơ quan, ADRs được ghi nhận theo trình tự giảm dần về độ nghiêm trọng.
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: Hội chứng tiết ADH không thích hợp, với dấu hiệu và triệu chứng như thờ ơ, buồn nôn, chóng mặt, giảm thẩm thấu huyết thanh (máu), nôn, nhức đầu, lú lẫn hoặc các dấu hiệu và triệu chứng thần kinh khác.
Rối loạn da và mô dưới da: Phát ban do thuốc với tăng bạch cầu eosin và các triệu chứng hệ thống (DRESS), ngoại ban mụn mủ toàn thân cấp tính (AGEP).
Chấn thương, ngộ độc và các biến chứng phẫu thuật: Té ngã.
Rối loạn hệ thần kinh: Rối loạn ngôn ngữ (bao gồm loạn vận ngôn), thường gặp hơn khi tăng liều Trileptal.
Rối loạn hệ cơ xương và mô liên kết: Đã có báo cáo về tình trạng giảm mật độ khoáng ở xương, thiếu xương, loãng xương và gãy xương ở bệnh nhân điều trị lâu dài với Trileptal. Cơ chế oxcarbazepine ảnh hưởng đến hệ xương vẫn chưa được xác định.
Chống chỉ định
Quá mẫn cảm với oxcarbazepine hoặc eslicarbazepine hoặc bất kỳ thành phần tá dược nào của Trileptal.
Thận trọng khi sử dụng
Theo nghiên cứu đã có khoảng 25-30% bệnh nhân từng có phản ứng quá mẫn với carbamazepin có thể mẫn cảm với thuốc Trileptal.
Phản ứng ngoài da nghiêm trọng như Steven Johnson, hoại tử biểu bì nhiễm độc (Lyell) hoặc ban đỏ đa dạng có thể gặp ở bệnh nhân dùng trileptal, mặc dù rất hiếm gặp. Không nên dùng oxcarbazepin cho bệnh nhân dương tính HLA-B*1502 trừ khi lợi ích vượt trội nguy cơ.
Suy giáp là một phản ứng bất lợi hiếm gặp khi dùng trileptal. Nên đánh giá chức năng tuyến giáp trước khi bắt đầu điều trị và theo dõi định kỳ chức năng tuyến giáp khi sử dụng Trileptal ở trẻ em.
Tương tự với các thuốc điều trị động kinh khác, thuốc Trileptal làm tăng nhẹ nguy cơ về hành vi và ý định tự tử. Cần theo dõi bệnh nhân và tư vấn bác sĩ khi thấy có các dấu hiệu này.
Lái xe và vận hành máy móc
Các phản ứng bất lợi như chóng mặt, buồn ngủ, mất điều hòa, nhìn đôi, nhìn mờ, rối loạn thị giác, giảm natri huyết và giảm ý thức đã được báo cáo với Trileptal, đặc biệt ở giai đoạn bắt đầu điều trị, hoặc giai đoạn chuyển đổi khi chỉnh liều (thường gặp hơn trong giai đoạn tăng liều). Vì vậy cần cảnh báo bệnh nhân khi lái xe và vận hành máy móc.
Thời kỳ mang thai
Con của các bà mẹ động kinh dễ bị rối loạn phát triển, bao gồm dị tật. Dùng oxcarbazepine trong thai kỳ cho thấy thuốc này có thể gây dị tật nghiêm trọng khi sinh, tuy dữ liệu về số lượng còn hạn chế. Các dị tật bẩm sinh thường gặp nhất quan sát thấy khi điều trị với oxcarbazepine là khiếm khuyết vách ngăn thất trái, khiếm khuyết vách ngăn nhĩ thất, hở hàm ếch với sứt môi, hội chứng Down, loạn sản xương hông (một bên và hai bên), xơ cứng củ và dị tật bẩm sinh tai.
Dựa trên dữ liệu trong một danh sách đăng ký mang thai ở Bắc Mỹ, tỷ lệ dị tật bẩm sinh nghiêm trọng, được định nghĩa là các bất thường cấu trúc cần phẫu thuật, dùng thuốc hoặc thẩm mỹ, được chẩn đoán trong vòng 12 tuần sau sinh ở các bà mẹ dùng oxcarbazepine ở ba tháng đầu thai kỳ là 2% (95% khoảng tin cậy: 0.6 đến 5.1%). Khi so sánh với những phụ nữ mang thai không dùng bất kỳ một thuốc chống động kinh nào, nguy cơ tương đối (RR) bị dị tật bẩm sinh phụ nữ mang thai dùng oxcarbazepine là 1.6 (95% khoảng tin cậy: 0.46 đến 5.7).
Cần cân nhắc các trường hợp sau đây:
Khi phụ nữ đang thời kỳ dùng Trileptal mà có thai, hoặc định có thai, hoặc khi nhu cầu khởi đầu dùng Trileptal tăng lên trong khi mang thai, thì phải cân nhắc rất kỹ giữa lợi ích dùng thuốc với nguy cơ gây dị dạng cho thai. Điều này đặc biệt quan trọng trong 3 tháng đầu của thai kỳ.
Nên dùng các liều tối thiểu mà có hiệu lực điều trị.
Với phụ nữ ở tuổi sinh đẻ, nếu có thể được, nên dùng Trileptal là đơn trị liệu.
Bệnh nhân cần được cảnh báo về sự tăng nguy cơ gây dị dạng ở thai và cần được kiểm tra về bệnh tật trước khi sinh.
Trong suốt thai kỳ, không nên ngừng một thuốc chống động kinh có hiệu quả, vì sự tăng nặng bệnh sẽ có hại cho cả mẹ và thai.
Theo dõi và phòng ngừa
Thuốc chống động kinh có thể gây thiếu hụt acid folic, là nguyên nhân có thể gây bất thường cho thai. Trước và trong thai kỳ, khuyến cáo nên bổ sung acid folic cho người mang thai.
Do những thay đổi về sinh lý trong quá trình mang thai, nồng độ trong huyết tương của chất chuyển hóa có hoạt tính của oxcarbazepine, dẫn xuất 10-monohydroxy (MHD) có thể giảm dần trong suốt thai kỳ. Được khuyến cáo rằng đáp ứng lâm sàng nên được theo dõi cẩn thận ở những phụ nữ điều trị bằng Trileptal trong khi mang thai và việc xác định sự thay đổi của nồng độ MHD huyết tương nên được xem xét để đảm bảo rằng việc kiểm soát cơn động kinh một cách thỏa đáng được duy trì trong suốt thai kỳ. Nồng độ MHD huyết tương sau sinh có thể cũng cần được xem xét theo dõi đặc biệt trong trường hợp việc sử dụng thuốc tăng lên trong khi mang thai.
Ở trẻ mới sinh
Đã có báo cáo về rối loạn chảy máu ở trẻ sơ sinh do mẹ dùng thuốc chống động kinh. Để thận trọng, nên có biện pháp phòng ngừa bằng cách cho mẹ dùng vitamin K1 trong một số tuần cuối của thai kỳ và cả cho trẻ sơ sinh.
Oxcarbazepine và chất chuyển hóa có hoạt tính (là MHD) qua được hàng rào nhau thai. Nồng độ MHD trong huyết tương của trẻ sơ sinh và của mẹ là tương đương trong một trường hợp.
Thời kỳ cho con bú
Oxcarbazepine và chất chuyển hóa có hoạt tính của nó (MHD) được bài tiết vào sữa mẹ. Nồng độ thuốc trong sữa mẹ bằng 50% nồng độ trong huyết tương được tìm thấy đối với cả hai chất. Chưa rõ các ảnh hưởng đối với trẻ phơi nhiễm Trileptal theo con đường này. Vì vậy, không nên dùng Trileptal trong thời gian cho con bú.
Bảo quản
Bảo quản ở nhiệt độ không quá 30°C, tránh ánh sáng.




